CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. Tỷ giá hối đoái
1. Khái niệm: Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) được hiểu là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo giá đồng nội tệ. Đây chính là giá cả của ngoại tệ trên thị trường và được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ. Là một công cụ quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước và có tác dụng ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanh toán quốc tế, lên giá cả hàng hóa trong nước và lưu thông tiền tệ.
2. Nhân tố chính ảnh hưởng tới TGHĐ:
a. Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến sự biến động TGHĐ: Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại hay khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định, nhu cầu về nhập khẩu các hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên do đó nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên. Ngược lại, khi kinh tế suy thoái thì các hoạt động sản xuất cũng như xuất nhập khẩu sẽ bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ giảm đi. Điều này sẽ đẩy tỷ giá lên cao.
b. Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng đến TGHĐ. Nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, TGHĐ sẽ giảm xuống.
Ngoài những yếu tố nêu trên, TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như tâm lý của người dân, chính sách của chính phủ, uy tín của đồng tiền…
3. Tác động của tỷ giá đến nền kinh tế: TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng TGHĐ cũng tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt khác nhau trong nền kinh tế. Trong đó quan trọng nhất là hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư và tín dụng quốc tế. Đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng hiện nay thì vai trò này được thể hiện rất rõ! Nếu chúng ta muốn đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu nhất thiết chúng ta phải hạ giá đồng nội tệ xuống! Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương thông qua kênh giá cả. Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tính được giá xuất nhập khẩu của một loại hàng hóa của một nước theo tiền tệ của nước khác. Vì vậy tỷ giá thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu.Ngoài ra tỷ giá tăng hay giảm còn ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư và tín dụng quốc tế.
II. Tình hình biến động tỷ giá của nước ta từ năm 2008 đến quí I năm 2009
1. Quý I năm 2008:
a. Thực trạng: Trên thị trường giao dịch chính thức, kể từ đầu năm 2008 tỷ giá VND/USD xuống dưới mức 16.000 VND/USD.Ngày 4/1/2008, tỷ giá mua vào của các NHTM chỉ còn 15.985 – 15.987 VND/USD, tỷ giá bán ra của các NHTM cũng chỉ còn 15.992 – 15.995 VND/USD. Đây là mức tỷ giá thấp nhất kể từ tháng cuối quí III năm 2006 đến nay .
Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tỷ giá do NHNN công bố cũng giảm. Từ ngày 5.1.2008 chỉ còn 16.108 VND/USD, giảm 2 VND so với ngày 4.1.2007; Như vậy tỷ giá mua và bán ngoại tệ của các NHTM thấp hơn và bằng với giới hạn tối thiểu biên độ -0.75%. Đây là hiện tượng hiếm thấy trên thị trường ngoại tệ của nước ta từ trước tới nay. Bởi vì thông thường tỷ giá bán của NHTM cao hơn tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày.
Xu hướng này tiếp tục diễn ra trong suốt quí I/2008, cụ thể là VND đã lên giá đạt 15.968 vào ngày 13.2, chỉ trong vòng gần 3 tháng, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng đã giảm gần 50 đồng/USD. Trên thị trường tự do tình hình diễn ra còn thê thảm hơn. 1 USD chỉ đổi được 15.500 -15.600 VND, thấp hơn giá niêm yết tại các NHTM đến 200 đồng.
b. Nguyên nhân của của VND lên giá trong quí I này:
Do nguồn cung về ngoại tệ quá nhiều :-Càng về cuối năm và gần đến tết nguyên đáng Mậu tý thì cung ngoại tệ càng lớn. Đó là tiền kiều hối của việt nam, của người việt nam đi làm ăn và định cư hay kết hôn ở nước ngoài, người đi xuất khẩu lao động… gửi về cho người thân chi tiêu trong vào cuối năm và dịp tết. Ước tính nguồn ngoại hối của năm 2007 đạt con số gần 8 tỷ USD.
-Lần đầu tiên việt nam miễn thị thực cho việt kiều về nước. Thời điểm này người việt nam ở nước ngoài và việt kiều về nước bắt đầu gia tăng và sẽ tăng mạnh từ nay đến tết mậu tý, mang theo một số lượng lớn ngoại tệ tiền mặt rất lớn.
-Lãi suất huy động vốn USD của các NHTM trong nước giảm xuống dưới mức 4%/năm, giảm gần 1% so với thời điểm cao nhất. Nhiều người gửi tiền bằng USD cảm thấy thiệt vì tỷ giá giảm mạnh trong khi đó lãi suất gửi USD chỉ bằng dưới 40% so với gửi tiết kiệm đồng việt Nam cùng kỳ hạn. Bởi vậy những người có đồng USD bán đi lấy tiền đồng gửi tiết kiệm. Các doanh nghiệp cũng bán USD mạnh. Bên cạnh đó lãi suất vay vốn USD thấp, chỉ bằng dưới ½ lãi suất vay vốn đồng nội tệ. Do đó nhiều doanh nghiệp vay USD sau đó bán đi lấy VND sử dụng.
Tất cả các nguyên nhân đó làm cho cung ngoại tệ tăng mạnh và đẩy tỷ giá xuống thấp, đồng việt nam lên giá, USD mất giá.
c.Tác động của thực trạng này.
NHNN mở rộng biên độ sẽ làm cho VND lên giá so với USD, từ đó có thể kiềm chế được lạm phát đang gia tăng trong năm 2008. Bên cạnh rút bớt tiền trong lưu thông về nhà nước còn phải tạo ra một môi trường để kích thích tăng hàng hóa, dịch vụ. Mà khi USD mất giá hơn VND thì chi phí đầu vào cho sản xuất kinh doanh rẻ đi, kích thích tăng hàng hóa dịch vụ_ Một phần kiềm chế lạm phát. Mặt khác khi giá đầu vào rẻ đi thì sẽ hỗ trợ giá đầu ra cho sản phẩm. Tuy nhiên nếu tỷ giá xuống quá thấp, lại ảnh hưởng tới xuất khẩu. Như vậy NHNN phải rất thận trọng trong việc điều hành tỷ giá trong giai đoạn này để vừa kiềm chế được lạm phát vừa không ảnh hưởng tới xuất khẩu. Việc làm này không hề dể khi lạm phát trong nước đáng có dấu hiệu tăng cao và thị trường xuất khẩu đáng có dấu hiệu khó khăn.
2.Quý II/2008:
a. Thực trạng: -Thị trường chính: Đầu quí II cho đến gần cuối quí II, tỷ giá VND/USD liên tục đạt mức trần trong biên độ giao dịch 1%. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố đều đặn tăng nhẹ ( bình quân từ 5 – 8 đồng/ngày).
Từ 11/6 22/6, NHNN tăng mạnh tỷ giá VND/USD liên ngân hàng công bố từ mức 16.193 lên mức 16.461. Tỷ giá VND/USD mua bán niêm yết vẫn liên tục đạt mức trần. Nhu cầu ngoại tệ tiếp tục căng thẳng.
- Thị trường tự do: Tháng 5, giao dịch trở nên sôi động, tỷ giá liên tục xác lập các mức cao, vượt mốc 17.500. NHNN phải cung thêm USD để hạ nhiệt cơn sốt tăng giá USD.
+ Tháng 6/2008. Tỷ giá có biến động mạnh sau khi vượt qua mốc 18.000 và 19.000. Tuy nhiên sau đó đã hạ nhiệt cơn sốt ngoại tệ trên thị trường phi chính thức trong những ngày cuối tháng 6, đưa tỷ giá về quanh mức 17.400 – 17.600, gần hơn so với giá niêm yết.
b. Nguyên nhân:
- Trước tiên do tâm lý của người dân trước lạm phát tăng cao, lo sợ đồng việt nam mất giá nên nhiều người đổ xô đi mua USD cất trữ. Cuối tháng 5.2008, CPI của cả nước đạt 15,96% cao nhất so với mức tăng của cả năm trong 15 năm qua, cũng là thời điểm USD trên thị trường tự do tăng đột biến.
- Phản ứng của người dân trước tin đồn không có cơ sở về việt nam phá giá nội tệ. Ngay lập tức USD lại biến động mạnh so với VND. Tiếp đến giữa tháng 6.2008, người dân bàn tán rằng chính phủ sẽ phá giá VND, lập tức tỷ giá tăng lên tới 19.200. Tin đồn kích thích tâm lý người dân rút tiền VND mua USD cất trữ. Tuy nhiên sau khi thông tin này được xác nhận là không có cơ sở, kết hợp với thông tin NHNN lần đầu tiên công khai dự trữ ngoại tệ ròng của việt nam lên tới 20,7 tỷ USD thì tỷ giá lần lượt giảm.
- Yếu tố quan trọng nhất góp phần làm ổn định thị trường ngoại tệ và kéo tỷ giá đi xuống trong nhưng ngày cuối tháng 6, theo đánh giá của các NHTM là do sự can thiệp mạnh mẽ bởi các chính sách điều hành vĩ mô của NHNN. Trước khi biên độ được mở rộng lên +-2% , NHNN đã bơm ra thị trường 400 triệu USD đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp thông qua Vietcombank.
c. Tác động của đợt biến động này:
- Trước hết là tác động mạnh tới lạm phát bởi vì Tỷ giá tăng có lợi cho xuất khẩu nhưng lại ảnh hưởng đến nhập khẩu, trong khi việt nam đang là nền kinh tế nhập siêu. Tỷ giá tăng, giá hàng hoá nhập khẩu tăng mạnh, làm cho chi phí đầu vào của nhiều mặt hàng tăng cho nên làm tăng giá thành của nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
- Gây ra những xáo trộn trong nền kinh tế:
+Tỷ giá USD/ VND do NH công bố hoàn toàn mang tính hình thức. Thời điểm này, NH đến doanh nghiệp, người dân đều hiểu rõ tỷ giá 16x/1USD hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Tuy nhiên vì một lý do nào đó, mỗi ngày NHNN vẫn công bố chiếu lệ tỷ giá này.
+Khi có NH tuyên bố bán USD với giá 19xxx thì rõ ràng chênh lệch lên tới 3xxx/USD đã phản ánh một sức ép rất lớn cần phải có điều chỉnh.Những xáo trộn ấy đến từ việc các doanh nghiệp phải mua USD mỗi nơi mỗi kiểu, doanh nghiệp bán hàng áp giá USD mỗi nhà một phách, NH thì công bố tỷ giá một đằng, thực hiện lại một nẻo. Thực tế ấy dù ít dù nhiều cũng đưa ra một thông điệp với tất cả người dân: Nhà nước không còn khả năng kiểm soát tỷ giá nữa. Và điều này cực kỳ nguy hiểm.
- Làm suy giảm lòng tin của người dân: Thời gian vừa qua chúng ta có hai động thái: Nâng lãi suất cơ bản lên 14% và hạ giá VND xuống 2%. Đây là hai chính sách triệt tiêu nhau. Nâng lãi suất cơ bản là gián tiếp nâng giá VND, trong khi đồng thời lại trực tiếp giảm giá thông qua điều chỉnh tỷ giá. Về cơ bản thì hai chính sách này vô hại ( vì triệt tiêu nhau gần hêt), và cũng có phần xoa dịu tâm lý cồn cào tích trữ ngoại tệ của dân chúng trong cơn hoảng loạn. Nhưng bình tâm lại, thì chúng ta mới thấy được sự bối rối của NHTW. Nếu khẳng định của NH rằng sốt USD là ảo, tại sao lại nâng giá USD lên gần với mức chợ đen mà không làm nguợc lại.
Các động thái giảm giá VND, nâng lãi suất cơ bản, công bố tỷ giá liên ngân hàng mang tính chiếu lệ đi ngược lại với nhưng tuyên bố cứng rắn của nhà nước chỉ đưa đến một điều là làm suy giảm lòng tin của dân chúng vào VND. Hậu quả là dân càng cương quyết nắm giữ USD hiều hơn. Điều này rõ ràng là phản tác dụng trong kiềm chế lạm phát.
3. Quí III/2008:
a. Thực trạng: Bước vào những ngày đầu tháng 7, giá USD có xu hướng giảm dần. Chênh lệch tỷ giá VND/USD do NHTM niêm yết với giá thị trường giảm dần. Nhu cầu ngoại tệ không còn cao như trước nữa.
Những ngày tiếp theo, thị trường ngoại hối tiếp tục bình ổn, giá USD tiếp tục giảm dần và chỉ dao động rất nhỏ lên xuống quanh trục 17.000Đ. Giá USD tiếp tục giảm trong tháng 8, do cung cầu ngoại tệ trên thị trường tương đối cân bằng mặc dù tỉ giá bình quân liên ngân hàng ổn định nhưng tỷ giá giao dịch của các NHTM có xu hướng giảm ( tỷ giá ngày 29.8 giảm 1% so với tháng trước). Trên thị trường tự do, tỷ giá bám sát tỷ giá giao dịch của các NHTM, dao động ở mức 16.520 – 16.560
Xu hưóng này tiếp tục trong những ngày đầu tháng 9. Nhìn chung quí III đồng USD có xu hướng giảm dần.
b. Nguyên nhân:
-Hàng loạt can thiệp của chính phủ trong cuối tháng 6 ( công bố các thông tin tích cực để khắc phục yếu tố tâm lý cho người dân, bơm ra thị trưòng 400 triệu USD đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong 27/6, nới biên độ tỷ giá lên +-2%.)
- Trước những thông tin về giá dầu thế giới liên tục tăng mạnh ( nếu có xung đột trung đông), khiến nhiều nhà đầu tư cá nhân của việt nam chuyển sang đầu tư vào vàng thay vì nắm giữ USD. Đồng thời, thị trường chứng khoán VN vừa có nhiều phiên tăng điểm liên tục, luồn tiền liên tục đổ vào chứng khoán. Đây cũng là yếu tố khiến nhu cầu USD giảm mạnh.
- Cuối tháng 9, tỷ giá có xu hướng tăng, đó là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính mỹ, khiến nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của mỹ giảm đi, các nhà đầu tư nước ngoài đã hạn chế bỏ vốn đầu tư nên có thể làm ảnh hưởng đến nguồn thu đổi ngoại tệ trong nước. Nguồn cung ngoại tệ suy giảm có thể làm tỷ giá USD thị trường trong nước tăng nhẹ.
c. Tác động của thực trạng này đến nền kinh tế.
-Sau một thời gian tăng giá đột biến do tỷ giá USD/VND đứng ở mức cao, hiện trên thị trường giá nhiều loại hàng hoá nhập khẩu, nhất là xe máy tay ga, đồ điện máy, điện tử, linh kiện máy tính… giảm khá mạnh so với thời điểm trước. Điều này không phải là do nhiều doanh nghiệp giảm giá mà là do tỷ giá xuống nên giá quy ra tiền việt cũng giảm theo. Tỷ giá xuống tạo ra hưng phấn cho người bán lẫn người mua. Điều này đã góp phân làm giảm CPI của quý III, góp phần kiềm chế lạm phát.
-Trong quí 3, doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn trong kinh doanh và sản xuất. Khi tỷ giá VND/ USD giảm mạnh trên thị trường, nhiều DN nhập khẩu đã có được lợi thế tương đối. Tuy nhiên các doanh nghiệp khác, một hợp đồng xuất khẩu dự kiến sẽ đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp, khi biến động tỷ giá như trong thời gian qua có thể làm cho doanh nghiệp lãi giả lỗ thực.
+ Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, trong tình hình giá tăng mạnh lên 19.500 đ trên thị trường tự do, do nhu cầu cần thiết cho sản xuất các doanh nghiệp buộc phải nhập nguyên liệu với giá cao, bây giờ khi tỷ giá giảm hàng hoá đã đuợc xuất đi và DN nhận lại đồng USD, khi quy đổi ra đồng việt nam để chi trả cho các khoản chi phí sản xuất trong nước, tiền lương… thì DN phải chịu phần thiếu hụt do chênh lệch phần tỷ giá này.
+ Một số DN trong nước phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài, nhập hàng trong đợt tỷ giá tăng cao vừa qua, giờ đây khi phần lớn mặt hàng giảm giá cũng phải chịu lỗ để bán, nếu không sẽ làm giảm tính cạnh tranh.
4. Quí IV/2009:
a. Thực trạng: Từ ngày 1/10 đến ngày 30/10, tỷ giá đã tăng 1,44%. Trên thị trường tự do, có lúc tỷ giá VND/USD đã lên tới 17.000. Tuy nhiên hai tuần sau đó thị lại giảm dần. Hoạt động mua bán cũng trầm lắng hẳn. Người mua rất ít, trong khi người bán có xu hướng đẩy hàng nhiều hơn. Tỷ giá niêm yết tại các NHTM đang có xu hướng giảm dần, giảm khoảng 50 VND/USD. Tỷ giá niêm yết vào khoản 16.780 – 16.830
-TGHĐ trên thị trường tự do cũng như niêm yết tại các NHTM tương đối ổn định, sau khi NHNN nới thêm +/-1% biên độ giao dịch, từ +/-2% lên +/- 3% .
Trong những ngày 25, 26, 27.11, giá USD trên thị trường tự do tăng cao, nhiều lúc lên đến 17.400VND/USD. Nhiều NHTM công bố giá kịch trần so với tỉ giá do NHNN công bố cộng biên độ cho phép.
Nhìn chung so với quí IV, TGHĐ đang niêm yết tại các NHTM hiện chạm ngưỡng 17.000 VND/USD và không có nhiều biến động như các quí khác.
b. Nguyên nhân.
- Nguyên nhân chính đẩy TGHĐ nhích lên trong những ngày giữa tháng 10 chủ yếu là do tác động tâm lý của người tiêu dùng khi lãi suất cơ bản giảm. Thế nhưng, nếu so sánh giữa lãi suất tiền gửi VND và USD tại các NH hiện nay thì giữ tiền đồng vẫn có lợi hơn nhiều. Cụ thể, lãi suất huy động ngoại tệ hiện đuợc các NH áp dụng ở mức cao nhất là 6%/năm, trong khi lãi suất VND phổ biến là 16-16,5%/ năm. Cho nên tỷ giá hối đoái vẫn nhích lên không nhiều.
-NHNN quyết định tăng biên độ tỷ giá lên +- 3% để tạo điều kiện cho tỷ giá điều chỉnh linh hoạt hơn, phản ánh tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường và góp phần hạn chế nhập siêu, khuyến khích xuất khẩu và đảm bảo tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững.
Trong quý IV/2008 TGHĐ tương đối ổn định là do không có lý do gì để tỷ giá tăng, trong khi kiều hối đang chảy về dồi dào vào dịp cuối năm, mức nhập siêu cũng giảm dần do các nhà nhập khẩu thu hẹp kế hoạch mua hàng dự trữ phục vụ tết và nhu cầu nắm giữ ngoại tệ của người dân không tăng cao như những tháng đầu năm.
c. Tác động đến nền kinh tế: Vào những ngày giữa tháng 10, khi TGHĐ trên thị trường nhích dần lên, nhiều người đã tỏ ra lo ngại, nhất là khi lãi suất cơ bản được điều chỉnh giảm từ 14% xuống còn 13%. Một số nhà đầu tư đã chuyển vốn sang ngoại tệ.
-NHNN nới thêm biên độ giao dịch TGHĐ trong lúc này sẽ hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu.
-Hơn nữa, Tỷ giá USD tăng sẽ góp phần giảm nhập siêu ( tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu), kích thích tiêu dùng các mật hàng sản xuất trong, qua đó kích thích sản xuất trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
5. Quí I/2009:
a. Thực trạng TGHĐ: Từ đầu năm 2009 tới nay, tình hình cung cầu ngoại tệ cả trên thị trường niêm yết lẫn trên thị trường tự do diễn biến rất căng thẳng. Phía các NHTM thì dư thừa USD cho vay nhưng lại đang thiếu hụt trầm trọng USD để bán cho các DN. Chỉ sau gần một tháng Ngân hàng Nhà nước mở rộng biên độ giao dịch từ + 3% lên + 5%, các ngân hàng thương mại đã phải niêm yết tỷ giá mua vào lẫn bán ra ở mức tỷ giá trần là 1 USD = ( 17.540 – 17.790) nhưng vẫn không có DN nào bán mặc dù nếu bán USD thì DN sẽ có lời. Trong khi các DN có USD thì không bán cho NH mà chỉ gửi ở các NH để lấy lãi. Nên lãi suất huy động USD ở các NH ở mức cao từ 2- 3%. Lãi suất cho vay ra USD của các NH đã hạ rất thấp xuống còn 1.5 – 2% mà vẫn không có DN vay, họ chỉ vay VND vì được hưởng hỗ trợ lãi suất 4% của chính phủ. Điều này làm cho NH gặp nhiều khó khăn. Nếu giờ gửi số ngoại tệ huy động được ra nước ngoài thì rủi ro rất cao, còn nếu gửi ở NHNN thì lãi suất rất thấp chỉ 0.1-0.2% không đủ bù đắp chi phí trả lãi cho khách hàng.
Trên thị trường tự do: Ngân hàng thừa USD cho vay mà DN không vay nhưng NH lại thiếu USD để bán cho DN xuất nhập khẩu. Làm cho các DN gặp nhiều khó khăn. (Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu có bán mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần do Ngân hàng Nhà nước quy định từ 1% đến 2%). Nắm bắt được tình hình đó, thị trường chợ đen liên tục tăng giá bán USD. Từ đầu năm đến nay giá bán USD trên thị trường này tăng từ 17.785VND = 1USD lên 18.420VND =1 USD. Nhìn chung cung cầu ngoại tệ trên thị trường rất căng thẳng. Các DN có USD thì không bán cho NH. Các NH thì không có USD để bán cho các DN khác đang cần mua USD. Các hộ gia đình có nhu cầu ngoại tệ cho con em đi học nước ngoài, đi du lich cũng rất khó mua được USD ở NH mà phải đi mua ở thị trường bên ngoài với giá lên tới trên hơn 18.000VDN. Có những địa điểm vẫn không bán ngoại tệ cho khách hàng.
b. Nguyên nhân của thực trạng trên.
- Trước hết là yếu tố tâm lý, doanh nghiệp và người dân đều biết nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục đương đầu với những khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế đều giảm sút, thậm chí một số lĩnh vực còn giảm sút rất mạnh. Từ suy nghĩ đó đã tạo ra tâm lý lo ngoại sự mất giá mạnh của VND dẫn đến găm giữ ngoại tệ.
- Bên cạnh đó, hoạt động đầu cơ trên thị trường chợ đen cũng thừa cơ trỗi dậy.
Nắm được tâm lý của doanh nghiệp và người dân, giới đầu cơ chủ động đưa ra các tin đồn thất thiệt, thậm chí còn tự tạo ra các đợt sóng trên thị trường ngoại tệ để mua bán kiếm lời.
- Bên cạnh đó, hoạt động đầu cơ trên thị trường chợ đen cũng thừa cơ trỗi dậy.
Nắm được tâm lý của doanh nghiệp và người dân, giới đầu cơ chủ động đưa ra các tin đồn thất thiệt, thậm chí còn tự tạo ra các đợt sóng trên thị trường ngoại tệ để mua bán kiếm lời.
- Ngoài ra, còn có yếu tố khách quan. Từ cuối năm 2008 đến nay, Chính phủ đã thực hiện nhóm giải pháp hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn ngân hàng bằng VND cho cả ba kỳ hạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đã đưa mặt bằng lãi suất vay VND thực tế của doanh nghiệp và dân cư xuống 5 - 6% (một số trường hợp còn thấp hơn). Mặt bằng lãi suất này cũng bằng mặt bằng lãi suất cho vay ngoại tệ hiện hành của hệ thống ngân hàng thương mại.
Điều này vô hình chung đã khuyến khích các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tiến hành vay vốn bằng VND để mua ngoại tệ của các ngân hàng thương mại thay vì vay vốn bằng ngoại tệ (hiệu quả kinh tế như nhau lại không bị rủi ro về biến động tỷ giá).
-Do xuất khẩu của ViệtNam đang gặp khó khăn, nguồn kiều hối cuối năm, thu ngoại tệ từ du lịch, đầu tư gián tiếp đều suy giảm. Bên cạnh đó, giá hàng hóa trên thế giới đã giảm rất mạnh nên việc nhập hàng về rẻ hơn hàng trong nước cũng kích thích nhu cầu nhập khẩu.
Điều này vô hình chung đã khuyến khích các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tiến hành vay vốn bằng VND để mua ngoại tệ của các ngân hàng thương mại thay vì vay vốn bằng ngoại tệ (hiệu quả kinh tế như nhau lại không bị rủi ro về biến động tỷ giá).
-Do xuất khẩu của Việt
c. Tác động đến nền kinh tế:
NH thiếu USD làm cho các DN cần USD để nhập hàng hóa sản xuất không có đủ USD bược họ phải sản xuất cầm chừng, trễ hợp đồng với đối tác nước ngoài gây mất uy tín đáng kể của DN.
Các DN không mua đủ USD ở NH buộc phải mua ở chợ đen với giá cao vút, đẩy chi phí đầu vào tăng cao, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất. Điều này vô hình dung đã tác dụng tiêu cực đến chính sách kích cầu của chính phủ!
Tỷ giá USD/VND liên tục tăng cao còn tác động tới cả nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Khi đồng USD lên giá thì khuyến khích nhập khẩu và gây khó khăn cho xuất khẩu.
III. Quan điểm đánh giá chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam :
Diễn biễn tỷ giá từ đầu năm 2008 đến nay như đã nêu ở trên cũng như diễn biến tỷ giá thời gian trước chúng ta có thể thấy hoạch định chính sách tỷ giá của một nền kinh tế là hết sức khó khăn. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay mới gia nhập WTO thì điều này càng quan trọng hơn cho sự phát triễn nền kinh tế. Từ sự phân tích trên chúng ta cũng thấy rằng nước ta đang áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của NHNN. Vậy chế độ tỷ giá này liệu có thích hợp cho Việt nam không? Nó có ưu điểm gì đối với hai chính sách tỷ giá còn lại? Tại sao chúng ta lại không áp dụng chính sách tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi hoàn toàn?.
- Trước tiên ta thấy tỷ giá cố định làm cho đồng tiền việt nam ổn định, làm cho long tin của người dân được nâng lên và quan trọng hơn là tạo ra tâm lý an toàn cho nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài, thuận lợi cho việc thu hút vốn nước ngoài vào nước ta. Tuy nhiên nước ta là nền kinh tế dựa vào nhập khẩu rất lớn. Nên với chế độ chính sách này sẽ làm cho nền kinh tế không phát triễn lên được, không khuyến khích xuất khẩu, nền kinh tế không hòa nhập được với thế giới. Đồng thời với chính sách này làm cho đồng tiền trong nước tăng lên giả tạo làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước so với nước ngoài.
- Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Mặc dù chính sách này tạo ra sự tự chủ động trong chính sách kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển ổn định, giúp nền kinh tế tránh được những cú sốc giá cả xuất phát từ bên ngoài, tạo ra nhiều công ăn việc làm, khuyến khích xuất khẩu và sản xuất hàng hóa, tạo sự cân bằng trên thị trường ngoại tệ. Tuy nhiên vì nền kinh tế nước ta mới hội nhập, vừa mới chuyển đổi sang cơ chế thị trường nên còn nhiều bất cập trong vận hành kinh tế, các cơ chế còn chưa đồng bộ. Đặc biệt là chính sách tiền tệ. Nếu áp dụng chính sách này rất có khả năng gây ra rối loạn và khủng hoảng khi nền kinh tế còn quá nhỏ bé. Ngoài ra, người việt vẫn chưa đủ tin tưởng vào sự ổn định của đồng Việt Nam nên nếu thả nổi thì rất có thể sẽ diễn ra một cuộc đẩy tỷ giá hối đoái VND/USD lên cao. Điều này tuy có lợi cho xuất khẩu nhưng lại bất lợi cho nhập khẩu và những biến dộng khác như thất nghiệp, phá sản của DN.
Từ sự phân tích trên, áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước vừa phản ánh đúng đòi hỏi của cơ chế thị trường, một mặt đảm bảo tính chủ động và bàn tay cứng rắn của nhà nước can thiệp khi có biến động để tạo ra sự phát triễn cho nền kinh tế và mặt khác tạo ra sự phát triễn một cách ổn định và vững chắc của nó.
Trong thời buổi hội nhập thì việc xác định đúng hướng chính sách tỷ giá hối đoái của một quốc gia là rất quan trọng. Nó quyết định đến ngoại thương của một quốc gia, tạo ra sự tăng trưởng và hội nhập bền vững với thế giới. Tuy nhiên việc xác định chính sách tỷ giá đúng hướng hiện nay ở việt nam gặp phải rất nhiều khó khăn. Để chính sách này là đòn bẩy trong cán cân thương mại thì các nhà hoạch định chính sách phải nhận thức được vai trò của chính sách TGHĐ đối với nền kinh tế.
- Về mặt lý luận: Việc vận dụng các lý thuyết về tỷ giá hối đoái để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia cần được chọn lọc. Một trong những lý thuyết điều hành tỷ giá hối đoái mà việc vận dụng nó đòi hỏi cần nghiên cứu kỹ những tác động mang lại cho kinh tế xã hội là chính sách phá giá đồng nội tệ để kích thích xuất khẩu. Việc phá giá đồng nội tệ luôn đồng nghĩa với lạm phát tiền tệ, làm giảm sức mua của đồng tiền, làm giảm thu nhập thực tế của tất cả các thành viên trong xã hội. Tỷ giá hối đoái cũng phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trường. Tuy nhiên nhà nước không vì thế mà cho TGHĐ hoàn toàn bị chi phối bởi quy luật này chừng nào mà nền kinh tế trong nước vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau; mức độ chênh lệch về tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia cũng như mỗi tập đoàn, mỗi doanh nghiệp còn có sự cách biệt rất lớn.
- Về mặt thực tiễn: Có nghĩa là xét về hiệu quả kinh tế do vận dụng chính sách tỷ vào phát triễn kinh tế- xã hội của đất nước trong các thời kỳ phát triễn kinh tễ khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, nếu việc xác định chỉ số giá tiêu dung mà loại bỏ nhóm hàng lương thực thực phẩm ra khỏi rổ hàng hóa, dịch vụ cần tính thì chỉ số đó không thể phản ánh đúng sức mua của đồng tiền VND. Vì đại bộ phận người việt vẫn dành chủ yếu thu nhập cho nhu cầu về lương thực, thực phẩm.
Từ những nhận định trên, việc xác định chính sách tỷ giá phù hợp với nền kinh tế nước ta trong thời gian tới là cần được làm rõ. Cần phải nhận thức đúng vai trò cũng như đặc điểm của chính sách tỷ giá để đưa ra được một định hướng phù hợp:
+ Về mục tiêu của sính sách TGHĐ: Mục tiêu không chỉ được đặt ra trong ngắn hạn, mà còn được đặt ra trong dài hạn. Nên thống nhất quan niệm rằng, TGHĐ là một công cụ của sính sách tiền tệ, nên mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái cũng là nhằm hướng tới các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Vì vậy, mục tiêu của chính sách TGHĐ là ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền quốc gia, ổn định giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
+Về nguyên tắc vận hành của chính sách TGHĐ: Với hoàn cảnh hiện tại của việt nam thì vận dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước là cần thiết. Cơ chế này sẽ kéo dài cho đến khi việt nam có một nền kinh tế đủ mạnh, có một nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào đủ để can thiệp vào thị trường khi cần thiết. Như vậy một cơ chế tỷ giá phù hợp là một cơ chế phản ánh được các mối quan hệ giữa tỷ giá với lãi suất, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ khác nhau.
IV. Kết luận: Trong nền kinh tế thị trường, TGHĐ là một trong những công cụ tiền tệ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, các yếu tố tác động tới TGHĐ diễn biễn phức tạp làm cho tỷ giá thường xuyên thay đổi, do đó nó ảnh hưởng tới rất nhiều hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên chính phủ đã có nhiều chính sách can thiệp kịp thời để bình ổn tỷ giá, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Từ đó sẽ có nhiều bài học hơn trong việc quản lý điều hành chính sách TGHĐ của quốc gia.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét