Thứ Năm, 4 tháng 11, 2010

Người Do thái: Giỏi trí tuệ, giàu kinh tế! Vì sao?

Môn học lịch sử là một trong những môn đã theo chúng ta trong suốt cả quá trình đi học kể từ lúc mới cắp sách đến trường cho đến khi chúng ta ngẩn đầu bước ra khỏi trường. Cũng trong khoảng thời gian đó chúng ta đã được đọc và được các thầy cô nói rất nhiều về một cụm từ rất quen thuộc mà giờ đây cụm từ đó như là một câu thần chú mà chúng ta sẽ không bao giờ quên được:
"Dân tộc ta là một dân tộc đoàn kết, một dân tộc cần cù chịu thương chịu khó; Dân tộc việt nam ta chứa chan bao nổi đau thương khi phải sống dưới sự áp bức hơn 1000 năm đô hộ phương bắc, hơn 100 năm đô hộ phương Tây, rồi sau đó là 2 cuộc chiến tranh biên giới Tây Bắc và Tây nam. Ngày nay chúng ta lại đối mặt với cuộc chiến Diễn biến hòa bình...."
Giờ đây khi đọc được bài viết về người Do Thái trên diễn đàn, tôi chợt nghĩ đến lời thần chú này và ngẫm nghĩ một tí thì mới thấy rằng chúng ta tự hào về những điều mà các nước khác trên thế giới điều có. Thử hỏi có một dân tộc nào mà không đoàn kết không? Không đoàn kết thì liệu họ có tồn tại trên bản đồ thế giới cho đến ngày nay không hay là đã bị xóa sổ từ lâu rồi? Các dân tộc khác không chịu thương chịu khó mà sao họ giàu có và phát triễn đến thế trong khi chúng ta chịu thương chịu khó, cần cù chăm chỉ lao động mà sao chúng ta vẫn nghèo quá, và còn một khoảng cách quá xa so với họ?....Quá trình đấu tranh bảo vệ dân tộc ta là một chặng đường dài cho đến ngày nay. Thế nhưng hãy nhìn sang dân tộc người Do Thái ấy! Họ sống lưu vong, ăn nhờ ở đợ khắp thế gian hơn 2000 năm, đi đâu cũng bị tàn sát, căm ghét và miệt thị, đi đâu cũng bị cướp đoạt tài sản...và 2000 năm sau những người dân Do thái đã trở thành những Tỷ phú đầy quyền lực và tiếng tăm cả thế giới, họ đã qui tụ lại để xây dựng nên một nhà nước Israel của họ mà bao quanh nó là các nước hồi giáo luôn muốn "ăn thịt" họ. Vấn đề ở đây là hoàn toàn không có sự so sánh giữa đất nước ta với đất nước họ mà vấn đề khi đưa ra vấn đề này là để chúng ta có cái nhìn ra bên ngoài thoáng hơn để xem họ như thế nào và biết ta đang ở đâu!
Từ rất lâu rồi tôi đã biết là Người do thái rất thông minh. Dường như đây là thương hiệu của họ luôn! Sau này lớn thêm một tí tôi lại biết người do thái không chỉ thông minh đâu mà còn có rất nhiều điều tuyệt với khác. Tôi đã tự mình:
1.vì sao người do thái họ thông minh đến thế. trong khi họ vẫn là bằng da bằng thịt bình thương như chúng ta?
2. Vì sao có nhiều tỷ phú người mỹ gốc do thái đến thế? Forber đã thống kê 40 Tỷ phú giàu có nhất của Mỹ thì có đến 21 người là gốc do thái đơn cử như
 - Jacob Schiff, chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; đầu thế kỷ XX do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật Bản vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong đại chiến II Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc tuy đồng minh số Một của Nhật là phát xít Đức Hitler có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy; -- -Sheldon Adelson, người giàu thứ 3 nước Mỹ năm 2007, với tài sản cá nhân lên tới 26,5 tỷ USD;
- George Soros giàu thứ 28 ở Mỹ (7 tỷ USD) nổi tiếng thế giới hiện nay về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn;
-Michael Bloomberg có tài sản riêng 5,1 tỷ USD, làm thị trưởng thành phố New York đã 8 năm nay với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế, đang được mong đợi sẽ là ứng cử viên Tổng thống Mỹ khóa tới...
3.Vì sao người do thái sống lưu vong ăn nhờ ở đợ khắp nơi, đi đâu cũng bị tàn sát, căm ghét, bị cướp đoạt tài sản đến thê? Hơn 2000 năm sau đó họ lại giàu có và quay lại thành lập một đất nước Israel với nền kinh tế đứng thứ 13 thế giới, mức bình quân đầu người lên tới 20.000 USD/Người ( chúng ta chỉ gần 1.100 USD/Người), khoa học phát triễn mà bao quanh họ là các nước hồi giáo luôn muốn "ăn thịt" họ?
4. Cuối cùng khi đọc xong các bạn sẽ biết vì sao có được Hệ Thống Ngân hàng ngày nay!?
Cái gốc văn minh văn hóa của con người luôn được hình thành nên từ cái gốc văn hóa của dân tộc họ. Để đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên chúng ta đi tìm hiểu về cái gốc văn hóa của họ. Người Do Thái có hai đạo giáo là Kinh Thánh và Kinh Tamud. Kinh thánh nêu lên nhiều giá trị về đạo đức kinh doanh và buôn bán. Đạo Ki to sau này "copy" toàn bộ Kinh Thánh này làm phần mở đầu cho Kinh thánh của họ gọi là Cựu ước để phân biệt với Tân ước của họ trước đó. Đạo Tamud chưa rất nhiều giá trị cuộc sống của xã hội và đạo lý người do thái. Nó có ảnh hưởng đáng kể đến cái gốc của người do thái như các câu hỏi trên.
Kinh Tamud nhấn mạnh các điểm sau:
a. Nhấn mạnh về tri thức kiến thức của con người:
Kinh Tamud đã nêu lên " tài sản của chúng ta có thể mất đi, có thể bị cướp bóc nhưng trí tuệ của con người thì không ai có thể đánh cắp được". Đây cũng là điều mà cha mẹ người Do thái dạy con đầu tiên khi con mới lớn. Dù có khó khăn vất vả đến đâu họ cũng luôn chịu khó cho con họ được giáo dục, được có tri thức. Hệ quả của điều này dĩ nhiên là họ có một tri thức lớn mạnh, người do thái trở thành những người thông minh nhất thế giới trong tất cả các lĩnh vực từ khoa học đến xã hội, kinh tế và tư tưởng, đơn cử như:
-K.mark: Ông được đánh giá là một trong hai người thay đổi cả thế giới sau jesu. Ông đã tìm ra thuyết Giá trị thặng dư và chủ nghĩa nghĩa cộng sản. Ông nhận bằng tiến sĩ lúc mới 25 tuổi....
-Alan Sreenpan: Chủ tịch cục dự trữ liên bang mỹ suốt 4 đời tổng thống mỹ. Ông là người được xem có quyền lực sát sinh tài chính nhất nước mỹ cũng như thế giới. Nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân của cuộc khủng hoàng ngày nay cũng một phần do việc duy trì lãi suất thấp trong một thời gian dài của ông. ( bài sau mình sẽ trình bày về khủng hoảng kinh tế này).
 Theo thống kế thì trong 41% chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1901-2007 là người Do Thái (cộng 13 người), chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008) đến Việt nam 2009 … là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng...
b. Nếu như các đọa giáo khác như đạo Kito, nho giáo, Phật giáo đều xem trọng người nghèo, không hướng con người tạo ra của cải tài sản tiền bạc và sự giàu có. Đạo Kito cho răng: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ dàng hơn người giàu bước vào nước chúa". Điều này có nghĩa là người giàu có thì đừng có hòng được chúa che chở bảo vệ. Nho giáo và phật giáo đề cao cứu khổ cứu nạn, phổ độ chúng sanh, từ bi bác ai. Hướng con người làm làm việc thiện, tu tâm chứ không phải là hướng con người tới sự giàu có. Họ cho rằng chỉ có hướng thiện, tu tâm dưỡng đức là cách duy nhất để tiến tới chân niếm bàn của đất phật. Trong khi đó Kinh Tamud của người Do Thái lại nhấn mạnh đến sự giàu có, tiền bạc và tài sản. Heghel-một nhà triết học cổ điển người đức cho răng: Nhân quyền chung qui lại là quyền sở hữu tài sản của con người. Hay K.mark cho rằng: Chủ nghĩa cộng sản là sự phục hồi chế độ sở hữu tư nhân ở một hình thức cao hơn. Điều này có nghĩa là chỉ có giàu có, có nhiều tài sản mới có nhân quyền và có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đối với người Do thái việc làm giàu để tạo ra tài sản tiền bạc như là một gánh nặng mà thượng đế đã giao phó cho họ. Vì thế dù đi đâu về đâu họ cũng là những người có đầu óc kinh doanh siêu phàm, họ luôn tìm cách để đẻ ra tiền và khi có tiền thì tiền phải tạo ra tiền nữa. Đứng trên tư tưởng này mà họ đã sáng tạo ra các tiệm cầm đồ, sáng tạo ra hình thức cho vay lấy lãi đầu tiên trên thế giới. Đây chính là tiền đề của Hệ thống Ngân hàng ngày nay. Liệu không có người do thái thì không biết các ngân hàng ngày nay có hình thù như thế nào nữa.
Chính vì đức tình trọng tiền bạc cho nên khi đâu đâu họ cũng bị căm ghét chê bai cho là tham lam, bàn tiện, ích kỷ, xảo trá.
Trong Kinh Tamud người ta cũng nhân mạnh rằng: Tài sản sinh ra là theo lời thượng đế, tài sản đó là của chung tất cả mọi người chứ không phải của riêng ai. Họ cho răng: Của anh là của anh, của tôi là của tôi =>người bình thường; Của anh là của tôi, của tôi là của anh => người ngu ngốc; Của tôi là của anh VÀ của anh là của tôi => người ngoan đạo; Của anh là của tôi, của tôi là của tôi => kẻ xấu xa. Từ cái tư tưởng tài sản là không của riêng ai, từ cái tư tưởng phải biết chia sẻ đó mà người do thái dù đi bất cư đâu họ cũng luôn nương tựa vào nhau và luôn chỉ cho nhau cách làm ăn để trở thành giàu có. Đối với họ không có khái niệm "dấu nghề" như ở chúng ta. Nếu chúng ta có cái gọi là "bí quyết" thì không bao giờ chỉ ra hết cho người khác vì sợ họ giỏi hơn mình, vì sợ mình không đạp đầu cưởi cổ họ được. Điều này không hề có ở dân tộc do thái. Các tỷ phú người mỹ gốc do thái không ai là không có quĩ từ thiện để hướng về dân tộc họ. Chính vì lẽ đó mà người do thái đi đâu học cũng giàu có và dân tộc Israel gặp nhiều khó khăn với kẻ thù bao quanh mà họ vẫn có nền kinh tế phát triễn và khoa học vững mạnh, đời sống rất cao. Nước mỹ là đất nước của những nhà tư bản chứ không phải là nhà nước của dân do dân và vì dân như chúng ta. Cho nên mỗi cuộc bầu cử tổng thống mỹ luôn có những nhà tìa phiệt đứng phái sau "vổ cách". Khi họ trở thành tổng thống thì mọi chính sách đều bị chi phối bởi những nhà tài phiệt người Do thái này. Vì thế mà Nước mỹ luôn ủng hộ, viện trợ cho nhà nước Israel, giúp họ tồn tại được như thế.
Những giá trị kinh doanh mà đọa tamud để lại là rất sâu săc: "vay một quả trứng biến thành một trại ấp gà" hay " Mất tiền bạc là mất nửa đời người nhưng mất niềm tin là mất tất cả", hay là "giúp người sẽ làm tăng tài sản, ky bo sẽ làm tài sản mất đi"...Những giá trị kinh tế và nhân văn này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
Như vậy qua những điều phân tích trên chúng ta có thấy dân tộc họ đoàn kết ? có đoàn kết hơn chúng ta không? dân tộc họ có Cần cù chăm chỉ lao động không? dân tộc họ có đau thương không?...Họ đoàn kết để chống lại sự diệt vong của người Do thái, dọ cần cù chăm chỉ để trở thành những con người giàu có đầy uy quyền khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ. Họ đau thương khi phải đi đâu cũng bị tàn sát, căm ghét miệt thị. Nhưng họ vẫn vươn lên xây dựng đất nước Israel của họ đứng vứng trước mọi kẻ thủ bao quanh. Còn chúng ta vẫn đoàn kết, vẫn cần cù lao động, vẫn có đau thương nhưng người việt nam chúng ta là những con người làm thuê vĩ đại và dân tộc ta là dân tộc vĩ đại về làm thuê!!! ( lần sau sẽ viết chi tiết hơn về sự vĩ đại này). Khekhe


Việt Nam với bài toán Tỷ giá


CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I. Tỷ giá hối đoái
1. Khái niệm: Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) được hiểu là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo giá đồng nội tệ. Đây chính là giá cả của ngoại tệ trên thị trường và được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ. Là một công cụ quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước và có tác dụng ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanh toán quốc tế, lên giá cả hàng hóa trong nước và lưu thông tiền tệ.
2. Nhân tố chính ảnh hưởng tới TGHĐ:
a. Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến sự biến động TGHĐ: Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại hay khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định, nhu cầu về nhập khẩu các hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên do đó nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên. Ngược lại, khi kinh tế suy thoái thì các hoạt động sản xuất cũng như xuất nhập khẩu sẽ bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ giảm đi. Điều này sẽ đẩy tỷ giá lên cao.
b. Mức chênh lệch về  lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng đến TGHĐ. Nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, TGHĐ sẽ giảm xuống.
Ngoài những yếu tố nêu trên, TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như tâm lý của người dân, chính sách của chính phủ, uy tín của đồng tiền…
3. Tác động của tỷ giá đến nền kinh tế: TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng TGHĐ cũng tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt khác nhau trong nền kinh tế. Trong đó quan trọng nhất là hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư và tín dụng quốc tế. Đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng hiện nay thì vai trò này được thể hiện rất rõ! Nếu chúng ta muốn đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu nhất thiết chúng ta phải hạ giá đồng nội tệ xuống! Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương thông qua kênh giá cả. Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tính được giá xuất nhập khẩu của một loại hàng hóa của một nước theo tiền tệ của nước khác. Vì vậy tỷ giá thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu.Ngoài ra tỷ giá tăng hay giảm còn ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư và tín dụng quốc tế.
II. Tình hình biến động tỷ giá của nước ta từ năm 2008  đến quí I năm 2009
1. Quý I năm 2008:
 a.   Thực trạng: Trên thị trường giao dịch chính thức, kể từ đầu năm 2008 tỷ giá VND/USD xuống dưới mức 16.000 VND/USD.Ngày 4/1/2008, tỷ giá mua vào của các NHTM chỉ còn 15.985 – 15.987 VND/USD, tỷ giá bán ra của các NHTM cũng chỉ còn 15.992 – 15.995 VND/USD. Đây là mức tỷ giá thấp nhất kể từ tháng cuối quí III năm 2006 đến nay .
Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tỷ giá do NHNN công bố cũng giảm. Từ ngày 5.1.2008 chỉ còn 16.108 VND/USD, giảm 2 VND so với ngày 4.1.2007; Như vậy tỷ giá mua và bán ngoại tệ của các NHTM thấp hơn và bằng với giới hạn tối thiểu biên độ -0.75%. Đây là hiện tượng hiếm thấy trên thị trường ngoại tệ của nước ta từ trước tới nay. Bởi vì thông thường tỷ giá bán của NHTM cao hơn tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày.
Xu hướng này tiếp tục diễn ra trong suốt quí I/2008, cụ thể là VND đã lên giá đạt 15.968 vào ngày 13.2, chỉ trong vòng gần 3 tháng, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng đã giảm gần 50 đồng/USD. Trên thị trường tự do tình hình diễn ra còn thê thảm hơn. 1 USD chỉ đổi được 15.500 -15.600 VND, thấp hơn giá niêm yết tại các NHTM đến 200 đồng.
b.  Nguyên nhân của của VND lên giá trong quí I này:
Do nguồn cung về ngoại tệ quá nhiều :-Càng về cuối năm và gần đến tết nguyên đáng Mậu tý thì cung ngoại tệ càng lớn. Đó là tiền kiều hối của việt nam, của người việt nam đi làm ăn và định cư hay kết hôn ở nước ngoài, người đi xuất khẩu lao động… gửi về cho người thân chi tiêu trong vào cuối năm và dịp tết. Ước tính nguồn ngoại hối của năm 2007 đạt con số gần 8 tỷ USD.
-Lần đầu tiên việt nam miễn thị thực cho việt kiều về nước. Thời điểm này người việt nam ở nước ngoài và việt kiều về nước  bắt đầu gia tăng và sẽ tăng mạnh từ nay đến tết mậu tý, mang theo một số lượng lớn ngoại tệ tiền mặt rất lớn.
-Lãi suất huy động vốn USD của các NHTM trong nước giảm xuống dưới mức 4%/năm, giảm gần 1% so với thời điểm cao nhất. Nhiều người gửi tiền bằng USD cảm thấy thiệt vì tỷ giá giảm mạnh trong khi đó lãi suất gửi USD chỉ bằng dưới 40% so với gửi tiết kiệm đồng việt Nam cùng kỳ hạn. Bởi vậy những người có đồng USD bán đi lấy tiền đồng gửi tiết kiệm. Các doanh nghiệp cũng bán USD mạnh. Bên cạnh đó lãi suất vay vốn USD thấp, chỉ bằng dưới ½  lãi suất vay vốn đồng nội tệ. Do đó nhiều doanh nghiệp vay USD sau đó bán đi lấy VND sử dụng.
Tất cả các nguyên nhân đó làm cho cung ngoại tệ tăng mạnh và đẩy tỷ giá xuống thấp, đồng việt nam lên giá, USD mất giá.
c.Tác động của thực trạng này.
NHNN mở rộng biên độ  sẽ làm cho VND lên giá so với USD, từ đó có thể kiềm chế được lạm phát đang gia tăng trong năm 2008. Bên cạnh rút bớt tiền trong lưu thông về nhà nước còn phải tạo ra một môi trường để kích thích tăng hàng hóa, dịch vụ. Mà khi USD mất giá hơn VND thì chi phí đầu vào cho sản xuất kinh doanh rẻ đi, kích thích tăng hàng hóa dịch vụ_ Một phần kiềm chế lạm phát. Mặt khác khi giá đầu vào rẻ đi thì sẽ hỗ trợ giá đầu ra cho sản phẩm. Tuy nhiên nếu tỷ giá xuống quá thấp, lại ảnh hưởng tới xuất khẩu. Như vậy NHNN phải rất thận trọng trong việc điều hành tỷ giá trong giai đoạn này để vừa kiềm chế được lạm phát vừa không ảnh hưởng tới xuất khẩu. Việc làm này không hề dể khi lạm phát trong nước đáng có dấu hiệu tăng cao và thị trường xuất khẩu đáng có dấu hiệu khó khăn.
2.Quý II/2008:
a. Thực trạng: -Thị trường chính: Đầu quí II cho đến gần cuối quí II, tỷ giá VND/USD liên tục đạt mức trần trong biên độ giao dịch 1%. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố đều đặn tăng nhẹ ( bình quân từ 5 – 8 đồng/ngày).
Từ 11/6 22/6,  NHNN tăng mạnh tỷ giá VND/USD liên ngân hàng công bố từ mức 16.193 lên mức 16.461. Tỷ giá VND/USD  mua bán niêm yết vẫn liên tục đạt mức trần. Nhu cầu ngoại tệ tiếp tục căng thẳng.
-      Thị trường tự do:  Tháng 5, giao dịch trở nên sôi động, tỷ giá liên tục xác lập các mức cao, vượt mốc 17.500. NHNN phải cung thêm USD để hạ nhiệt cơn sốt tăng giá USD.
+ Tháng 6/2008. Tỷ giá có biến động mạnh sau khi vượt qua mốc 18.000 và 19.000. Tuy nhiên sau đó đã hạ nhiệt cơn sốt ngoại tệ trên thị trường phi chính thức trong những ngày cuối tháng 6, đưa tỷ giá về quanh mức 17.400 – 17.600, gần hơn so với giá niêm yết.
b. Nguyên nhân:
-          Trước tiên do tâm lý của người dân trước lạm phát tăng cao, lo sợ đồng việt nam mất giá nên nhiều người đổ xô đi mua USD cất trữ. Cuối tháng 5.2008, CPI của cả nước đạt 15,96% cao nhất so với mức tăng của cả năm trong 15 năm qua, cũng là thời điểm USD trên thị trường tự do tăng đột biến.
-          Phản ứng của người dân trước tin đồn không có cơ sở về việt nam phá giá nội tệ. Ngay lập tức USD lại biến động mạnh so với VND. Tiếp đến giữa tháng 6.2008, người dân bàn tán rằng chính phủ sẽ phá giá  VND, lập tức tỷ giá tăng lên tới 19.200. Tin đồn kích thích tâm lý người dân rút tiền VND mua USD cất trữ. Tuy nhiên sau khi thông tin này được xác nhận là không có cơ sở, kết hợp với thông tin NHNN lần đầu tiên công khai dự trữ ngoại tệ ròng của việt nam lên tới 20,7 tỷ USD thì tỷ giá lần lượt giảm.
-          Yếu tố quan trọng nhất góp phần làm ổn định thị trường ngoại tệ và kéo tỷ giá đi xuống trong nhưng ngày cuối tháng 6, theo đánh giá của các NHTM là do sự can thiệp mạnh mẽ bởi các chính sách điều hành vĩ mô của NHNN. Trước khi biên độ được mở rộng lên +-2% , NHNN đã bơm ra thị trường 400 triệu USD đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp thông qua Vietcombank.
c.  Tác động của đợt biến động này:
- Trước hết là tác động mạnh tới lạm phát bởi vì Tỷ giá tăng có lợi cho xuất khẩu nhưng lại ảnh hưởng đến nhập khẩu, trong khi việt nam đang là nền kinh tế nhập siêu. Tỷ giá tăng, giá hàng hoá nhập khẩu tăng mạnh, làm cho chi phí đầu vào của nhiều mặt hàng tăng cho nên làm tăng giá thành của nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
- Gây ra những xáo trộn trong nền kinh tế:
+Tỷ giá USD/ VND do NH công bố hoàn toàn mang tính hình thức. Thời điểm này, NH đến doanh nghiệp, người dân đều hiểu rõ tỷ giá 16x/1USD hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả. Tuy nhiên vì một lý do nào đó, mỗi ngày NHNN vẫn công bố chiếu lệ tỷ giá này.
+Khi có NH tuyên bố bán USD với giá 19xxx thì rõ ràng chênh lệch lên tới 3xxx/USD đã phản ánh một sức ép rất lớn cần phải có điều chỉnh.Những xáo trộn ấy đến từ việc các doanh nghiệp phải mua USD mỗi nơi mỗi kiểu, doanh nghiệp bán hàng áp giá USD mỗi nhà một phách, NH thì công bố tỷ giá một đằng, thực hiện lại một nẻo. Thực tế ấy dù ít dù nhiều cũng đưa ra một thông điệp với tất cả người dân: Nhà nước không còn khả năng kiểm soát tỷ giá nữa. Và điều này cực kỳ nguy hiểm.
-          Làm suy giảm lòng tin của người dân: Thời gian vừa qua chúng ta có hai động thái: Nâng lãi suất cơ bản lên 14% và hạ giá VND xuống 2%. Đây là hai chính sách triệt tiêu nhau. Nâng lãi suất cơ bản là gián tiếp nâng giá VND, trong khi đồng thời lại trực tiếp giảm giá thông qua điều chỉnh tỷ giá. Về cơ bản thì hai chính sách này vô hại ( vì triệt tiêu nhau gần hêt),  và cũng có phần xoa dịu tâm lý cồn cào tích trữ ngoại tệ của dân chúng trong cơn hoảng loạn. Nhưng bình tâm lại, thì chúng ta mới thấy được sự bối rối của NHTW.  Nếu khẳng định của NH rằng sốt USD là ảo, tại sao lại nâng giá USD lên gần với mức chợ đen mà không làm nguợc lại.
Các động thái giảm giá VND, nâng lãi suất cơ bản, công bố tỷ giá liên ngân hàng mang tính chiếu lệ đi ngược lại với nhưng tuyên bố cứng rắn của nhà nước chỉ đưa đến một điều là làm suy giảm lòng tin của dân chúng vào VND. Hậu quả là dân càng cương quyết nắm giữ USD hiều hơn. Điều này rõ ràng là phản tác dụng trong kiềm chế lạm phát.
3. Quí III/2008:
a. Thực trạng: Bước vào những ngày đầu tháng 7, giá USD có xu hướng giảm dần. Chênh lệch tỷ giá VND/USD do NHTM niêm yết với giá thị trường giảm dần. Nhu cầu ngoại tệ không còn cao như trước nữa.
Những ngày tiếp theo, thị trường ngoại hối tiếp tục bình ổn, giá USD tiếp tục giảm dần và chỉ dao động rất nhỏ lên xuống quanh trục 17.000Đ. Giá USD tiếp tục giảm trong tháng 8, do cung cầu ngoại tệ trên thị trường tương đối cân bằng mặc dù tỉ giá bình quân liên ngân hàng ổn định nhưng tỷ giá giao dịch của các NHTM có xu hướng giảm ( tỷ giá ngày 29.8 giảm 1% so với tháng trước). Trên thị trường tự do, tỷ giá bám sát tỷ giá giao dịch của các NHTM, dao động ở mức 16.520 – 16.560
Xu hưóng này tiếp tục trong những ngày đầu tháng 9. Nhìn chung quí III đồng USD có xu hướng giảm dần.
b. Nguyên nhân:
-Hàng loạt can thiệp của chính phủ trong cuối tháng 6 ( công bố các thông tin tích cực để khắc phục yếu tố tâm lý cho người dân, bơm ra thị trưòng 400 triệu USD đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong 27/6, nới biên độ tỷ giá lên +-2%.)
- Trước những thông tin về giá dầu thế giới liên tục tăng mạnh ( nếu có xung đột trung đông), khiến nhiều nhà đầu tư cá nhân của việt nam chuyển sang đầu tư vào vàng thay vì nắm giữ USD. Đồng thời, thị trường chứng khoán VN vừa có nhiều phiên tăng điểm liên tục, luồn tiền liên tục đổ vào chứng khoán. Đây cũng là yếu tố khiến nhu cầu USD giảm mạnh.
- Cuối tháng 9, tỷ giá có xu hướng tăng, đó là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính mỹ, khiến nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của mỹ giảm đi, các nhà đầu tư nước ngoài đã hạn chế bỏ vốn đầu tư nên có thể làm ảnh hưởng đến nguồn thu đổi ngoại tệ trong nước. Nguồn cung ngoại tệ suy giảm có thể làm tỷ giá USD thị trường trong nước tăng nhẹ.
c. Tác động của thực trạng này đến nền kinh tế.
-Sau một thời gian tăng giá đột biến do tỷ giá USD/VND đứng ở mức cao, hiện trên thị trường giá nhiều loại hàng hoá nhập khẩu, nhất là xe máy tay  ga, đồ điện máy, điện tử, linh kiện máy tính… giảm khá mạnh so với thời điểm trước. Điều này không phải là do nhiều doanh nghiệp giảm giá mà là do tỷ giá xuống nên giá quy ra tiền việt cũng giảm theo. Tỷ giá xuống tạo ra hưng phấn cho người bán lẫn người mua. Điều này đã góp phân làm giảm CPI của quý III, góp phần kiềm chế lạm phát.
-Trong quí 3, doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn trong kinh doanh và sản xuất. Khi tỷ giá VND/ USD giảm mạnh trên thị trường, nhiều DN nhập khẩu đã có được lợi thế tương đối. Tuy nhiên các doanh nghiệp khác, một hợp đồng xuất khẩu dự kiến sẽ đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp, khi biến động tỷ giá như trong thời gian qua có thể làm cho doanh nghiệp lãi giả lỗ thực.
+ Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, trong tình hình giá tăng mạnh lên 19.500 đ trên thị trường tự do, do nhu cầu cần thiết cho sản xuất các doanh nghiệp buộc phải nhập nguyên liệu với giá cao, bây giờ khi tỷ giá giảm hàng hoá đã đuợc xuất đi và DN nhận lại đồng USD, khi quy đổi ra đồng việt nam để chi trả cho các khoản chi phí sản xuất trong nước, tiền lương… thì DN phải chịu phần thiếu hụt do chênh lệch phần tỷ giá này.
+ Một số DN trong nước phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài, nhập hàng trong đợt tỷ giá tăng cao vừa qua, giờ đây khi phần lớn mặt hàng giảm giá cũng phải chịu lỗ để bán, nếu không sẽ làm giảm tính cạnh tranh.
4. Quí IV/2009:
a. Thực trạng: Từ ngày 1/10 đến ngày 30/10, tỷ giá đã tăng 1,44%. Trên thị trường tự do, có lúc tỷ giá VND/USD đã lên tới 17.000. Tuy nhiên hai tuần sau đó thị lại giảm dần. Hoạt động mua bán cũng trầm lắng hẳn. Người mua rất ít, trong khi người bán có xu hướng đẩy hàng nhiều hơn. Tỷ giá niêm yết tại các NHTM đang có xu hướng giảm dần, giảm khoảng 50 VND/USD. Tỷ giá niêm yết vào khoản 16.780 – 16.830
-TGHĐ trên thị trường tự do cũng như niêm yết tại các NHTM tương đối ổn định, sau khi NHNN nới thêm +/-1% biên độ giao dịch, từ +/-2% lên +/- 3% .
Trong những ngày 25, 26, 27.11, giá USD trên thị trường tự do tăng cao, nhiều lúc lên đến 17.400VND/USD. Nhiều NHTM công bố giá kịch trần so với tỉ giá do NHNN công bố cộng biên độ cho phép.
Nhìn chung so với quí IV, TGHĐ đang niêm yết tại các NHTM hiện chạm ngưỡng 17.000 VND/USD và không có nhiều biến động như các quí khác.
b. Nguyên nhân.
- Nguyên nhân chính đẩy TGHĐ nhích lên trong những ngày giữa tháng 10 chủ yếu là do tác động tâm lý của người tiêu dùng khi lãi suất cơ bản giảm. Thế nhưng, nếu so sánh giữa lãi suất tiền gửi VND và USD tại các NH hiện nay thì giữ tiền đồng vẫn có lợi hơn nhiều. Cụ thể, lãi suất huy động ngoại tệ hiện đuợc các NH áp dụng ở mức cao nhất là 6%/năm, trong khi lãi suất VND phổ biến là 16-16,5%/ năm. Cho nên tỷ giá hối đoái vẫn nhích lên không nhiều.
-NHNN quyết định tăng biên độ tỷ giá lên +- 3% để tạo điều kiện cho tỷ giá điều chỉnh linh hoạt hơn, phản ánh tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường và góp phần hạn chế nhập siêu, khuyến khích xuất khẩu và đảm bảo tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững.
Trong quý IV/2008 TGHĐ tương đối ổn định là do không có lý do gì để tỷ giá tăng, trong khi kiều hối đang chảy về dồi dào vào dịp cuối năm, mức nhập siêu cũng giảm dần do các nhà nhập khẩu thu hẹp kế hoạch mua hàng dự trữ phục vụ tết  và nhu cầu nắm giữ ngoại tệ của người dân không tăng cao như những tháng đầu năm.
c. Tác động đến nền kinh tế: Vào những ngày giữa tháng 10, khi TGHĐ trên thị trường nhích dần lên, nhiều người đã tỏ ra lo ngại, nhất là khi lãi suất cơ bản được điều chỉnh giảm từ 14% xuống còn 13%. Một số nhà đầu tư đã chuyển vốn sang ngoại tệ.
-NHNN nới thêm biên độ giao dịch TGHĐ trong lúc này sẽ hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu.
-Hơn nữa, Tỷ giá USD tăng sẽ góp phần giảm nhập siêu ( tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu), kích thích tiêu dùng các mật hàng sản xuất trong, qua đó kích thích sản xuất trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
5. Quí I/2009:
a. Thực trạng TGHĐ: Từ đầu năm 2009 tới nay, tình hình cung cầu ngoại tệ cả trên thị trường niêm   yết lẫn trên thị trường tự do diễn biến rất căng thẳng. Phía các NHTM thì dư thừa USD cho vay nhưng lại đang thiếu hụt trầm trọng USD để bán cho các DN. Chỉ sau gần một tháng Ngân hàng Nhà nước mở rộng biên độ giao dịch từ + 3% lên + 5%, các ngân hàng thương mại đã phải niêm yết tỷ giá mua vào lẫn bán ra ở mức tỷ giá trần là 1 USD = ( 17.540 – 17.790) nhưng vẫn không có DN nào bán mặc dù nếu bán USD thì DN sẽ có lời. Trong khi các DN có USD thì không bán cho NH mà chỉ gửi ở các NH để lấy lãi. Nên lãi suất huy động USD ở các NH ở mức cao từ 2- 3%. Lãi suất cho vay ra USD của các NH đã hạ rất thấp xuống còn 1.5 – 2% mà vẫn không có DN vay, họ chỉ vay VND vì được hưởng hỗ trợ lãi suất 4% của chính phủ. Điều này làm cho NH gặp nhiều khó khăn. Nếu giờ gửi số ngoại tệ huy động được ra nước ngoài thì rủi ro rất cao, còn nếu gửi ở NHNN thì lãi suất rất thấp chỉ 0.1-0.2% không đủ bù đắp chi phí trả lãi cho khách hàng.
Trên thị trường tự do: Ngân hàng thừa USD cho vay mà DN không vay nhưng NH lại thiếu USD để bán cho DN xuất nhập khẩu. Làm cho các DN gặp nhiều khó khăn. (Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu có bán mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần do Ngân hàng Nhà nước quy định từ 1% đến 2%). Nắm bắt được tình hình đó, thị trường chợ đen liên tục tăng giá bán USD. Từ đầu năm đến nay giá bán USD trên thị trường này tăng từ 17.785VND = 1USD lên 18.420VND =1 USD. Nhìn chung cung cầu ngoại tệ trên thị trường rất căng thẳng. Các DN có USD thì không bán cho NH. Các NH thì không có USD để bán cho các DN khác đang cần mua USD. Các hộ gia đình có nhu cầu ngoại tệ cho con em đi học nước ngoài, đi du lich cũng rất khó mua được USD ở NH mà phải đi mua ở thị trường bên ngoài với giá lên tới trên hơn 18.000VDN. Có những địa điểm vẫn không bán ngoại tệ cho khách hàng.
b. Nguyên nhân của thực trạng trên.
- Trước hết là yếu tố tâm lý, doanh nghiệp và người dân đều biết nền kinh tế    Việt Nam vẫn tiếp tục đương đầu với những khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế đều giảm sút, thậm chí một số lĩnh vực còn giảm sút rất mạnh. Từ suy nghĩ đó đã tạo ra tâm lý lo ngoại sự mất giá mạnh của VND dẫn đến găm giữ ngoại tệ.
- Bên cạnh đó, hoạt động đầu cơ trên thị trường chợ đen cũng thừa cơ trỗi dậy.

Nắm được tâm lý của doanh nghiệp và người dân, giới đầu cơ chủ động đưa ra các tin đồn thất thiệt, thậm chí còn tự tạo ra các đợt sóng trên thị trường ngoại tệ để mua bán kiếm lời.
- Ngoài ra, còn có yếu tố khách quan. Từ cuối năm 2008 đến nay, Chính phủ đã thực hiện nhóm giải pháp hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn ngân hàng bằng VND cho cả ba kỳ hạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đã đưa mặt bằng lãi suất vay VND thực tế của doanh nghiệp và dân cư xuống 5 - 6% (một số trường hợp còn thấp hơn). Mặt bằng lãi suất này cũng bằng mặt bằng lãi suất cho vay ngoại tệ hiện hành của hệ thống ngân hàng thương mại.

Điều này vô hình chung đã khuyến khích các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tiến hành vay vốn bằng VND để mua ngoại tệ của các ngân hàng thương mại thay vì vay vốn bằng ngoại tệ (hiệu quả kinh tế như nhau lại không bị rủi ro về biến động tỷ giá).
-Do xuất khẩu của Việt Nam đang gặp khó khăn, nguồn kiều hối cuối năm, thu ngoại tệ từ du lịch, đầu tư gián tiếp đều suy giảm. Bên cạnh đó, giá hàng hóa trên thế giới đã giảm rất mạnh nên việc nhập hàng về rẻ hơn hàng trong nước cũng kích thích nhu cầu nhập khẩu.
c. Tác động đến nền kinh tế:
NH thiếu USD làm cho các DN cần USD để nhập hàng hóa sản xuất không có đủ USD bược  họ phải sản xuất cầm chừng, trễ hợp đồng với đối tác nước ngoài gây mất uy tín đáng kể của DN.
Các DN không mua đủ USD ở NH buộc phải mua ở chợ đen với giá cao vút, đẩy chi phí đầu vào tăng cao, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất. Điều này vô hình dung đã tác dụng tiêu cực đến chính sách kích cầu của chính phủ!
Tỷ giá USD/VND liên tục tăng cao còn tác động tới cả nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Khi đồng USD lên giá thì khuyến khích nhập khẩu và gây khó khăn cho xuất khẩu.
III. Quan điểm đánh giá chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam:
Diễn biễn tỷ giá từ đầu năm 2008 đến nay như đã nêu ở trên cũng như diễn biến tỷ giá thời gian trước chúng ta có thể thấy hoạch định chính sách tỷ giá của một nền kinh tế là hết sức khó khăn. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay mới gia nhập WTO thì điều này càng quan trọng hơn cho sự phát triễn nền kinh tế. Từ sự phân tích trên chúng ta cũng thấy rằng nước ta đang áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của NHNN. Vậy chế độ tỷ giá này liệu có thích hợp cho Việt nam không? Nó có ưu điểm gì đối với hai chính sách tỷ giá còn lại? Tại sao chúng ta lại không áp dụng chính sách tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi hoàn toàn?.
-          Trước tiên ta thấy tỷ giá cố định làm cho đồng tiền việt nam ổn định, làm cho  long tin của người dân được nâng lên và quan trọng hơn là tạo ra tâm lý an toàn cho nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài, thuận lợi cho việc thu hút vốn nước ngoài vào nước ta. Tuy nhiên nước ta là nền kinh tế dựa vào nhập khẩu rất lớn. Nên với chế độ chính sách này sẽ làm cho nền kinh tế không phát triễn lên được, không khuyến khích xuất khẩu, nền kinh tế không hòa nhập được với thế giới. Đồng thời với chính sách này làm cho đồng tiền trong nước tăng lên giả tạo làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước so với nước ngoài.
-          Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Mặc dù chính sách này tạo ra sự tự chủ động trong chính sách kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển ổn định, giúp nền kinh tế tránh được những cú sốc giá cả xuất phát từ bên ngoài, tạo ra nhiều công ăn việc làm, khuyến khích xuất khẩu và sản xuất hàng hóa, tạo sự cân bằng trên thị trường ngoại tệ. Tuy nhiên vì nền kinh tế nước ta mới hội nhập, vừa mới chuyển đổi sang cơ chế thị trường nên còn nhiều bất cập trong vận hành kinh tế, các cơ chế còn chưa đồng bộ. Đặc biệt là chính sách tiền tệ. Nếu áp dụng chính sách này rất có khả năng gây ra rối loạn và khủng hoảng khi nền kinh tế còn quá nhỏ bé. Ngoài ra, người việt vẫn chưa đủ tin tưởng vào sự ổn định của đồng Việt Nam nên nếu thả nổi thì rất có thể sẽ diễn ra một cuộc đẩy tỷ giá hối đoái VND/USD lên cao. Điều này tuy có lợi cho xuất khẩu nhưng lại bất lợi cho nhập khẩu và những biến dộng khác như thất nghiệp, phá sản của DN.
Từ sự phân tích trên, áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước vừa phản ánh đúng đòi hỏi của cơ chế thị trường, một mặt đảm bảo tính chủ động và bàn tay cứng rắn của nhà nước can thiệp khi có biến động  để tạo ra sự phát triễn cho nền kinh tế và mặt khác tạo ra sự phát triễn một cách ổn định và vững chắc của nó.
Trong thời buổi hội nhập thì việc xác định đúng hướng chính sách tỷ giá hối đoái của một quốc gia là rất quan trọng. Nó quyết định đến ngoại thương của một quốc gia, tạo ra sự tăng trưởng và hội nhập bền vững với thế giới. Tuy nhiên việc xác định chính sách tỷ giá đúng hướng hiện nay ở việt nam gặp phải rất nhiều khó khăn. Để chính sách này là đòn bẩy trong cán cân thương mại thì các nhà hoạch định chính sách phải nhận thức được vai trò của chính sách TGHĐ đối với nền kinh tế.
- Về mặt lý luận: Việc vận dụng các lý thuyết về tỷ giá hối đoái để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia cần được chọn lọc.  Một trong những lý thuyết điều hành tỷ giá hối đoái mà việc vận dụng nó đòi hỏi cần nghiên cứu kỹ những tác động mang lại cho kinh tế xã hội là chính sách phá giá đồng nội tệ để kích thích xuất khẩu. Việc phá giá đồng nội tệ  luôn đồng nghĩa với lạm phát tiền tệ, làm giảm sức mua của đồng tiền, làm giảm thu nhập thực tế của tất cả các thành viên trong xã hội. Tỷ giá hối đoái cũng phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của thị trường. Tuy nhiên nhà nước không vì thế mà cho TGHĐ hoàn toàn bị chi phối bởi quy luật này chừng nào mà nền kinh tế trong nước vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau; mức độ chênh lệch về tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia cũng như mỗi tập đoàn, mỗi doanh nghiệp còn có sự cách biệt rất lớn.
- Về mặt thực tiễn:  Có nghĩa là xét về hiệu quả kinh tế do vận dụng chính sách tỷ vào phát triễn kinh tế- xã hội của đất nước trong các thời kỳ phát triễn kinh tễ khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay, nếu việc xác định chỉ số giá tiêu dung mà loại bỏ nhóm hàng lương thực thực phẩm ra khỏi rổ hàng hóa, dịch vụ cần tính thì chỉ số đó không thể phản ánh đúng sức mua của đồng tiền VND. Vì đại bộ phận người việt vẫn dành chủ yếu thu nhập cho nhu cầu về lương thực, thực phẩm.
Từ những nhận định trên, việc xác định chính sách tỷ giá phù hợp với nền kinh tế nước ta trong thời gian tới là cần được làm rõ. Cần phải nhận thức đúng vai trò cũng như đặc điểm của chính sách tỷ giá để đưa ra được một định hướng phù hợp:
+ Về mục tiêu của sính sách TGHĐ: Mục tiêu không chỉ được đặt ra trong ngắn hạn, mà còn được đặt ra trong dài hạn. Nên thống nhất quan niệm rằng, TGHĐ là một công cụ của sính sách tiền tệ, nên mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái cũng là nhằm hướng tới các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Vì vậy, mục tiêu của chính sách TGHĐ là ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền quốc gia, ổn định giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
+Về nguyên tắc vận hành của chính sách TGHĐ: Với hoàn cảnh hiện tại của việt nam thì vận dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước là cần thiết. Cơ chế này sẽ kéo dài cho đến khi việt nam có một nền kinh tế đủ mạnh, có một nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào đủ để can thiệp vào thị trường khi cần thiết. Như vậy một cơ chế tỷ giá phù hợp là một cơ chế phản ánh được các mối quan hệ giữa tỷ giá với lãi suất, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ khác nhau.
IV. Kết luận: Trong nền kinh tế thị trường, TGHĐ là một trong những công cụ tiền tệ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, các yếu tố tác động tới TGHĐ diễn biễn phức tạp làm cho tỷ giá thường xuyên thay đổi, do đó nó ảnh hưởng tới rất nhiều hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên chính phủ đã có nhiều chính sách can thiệp kịp thời để bình ổn tỷ giá, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Từ đó sẽ có nhiều bài học hơn trong việc quản lý điều hành chính sách TGHĐ của quốc gia.


Tài sản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại ( Tài sản TTNDNHL) phát sinh khi nào?


                                                                           Giải
Tài sản TTNDNHL phát sinh khi có một khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ!
Theo VAS_17: Khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ là một khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh các khoản được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập DN trong tương lai khi giá trị ghi sổ của các tài sản hoặc nợ phải trả được thu hồi hay được thanh toán.

-Khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ phát sinh khi:
+Giá trị ghi sổ của tài sản nhỏ hơn giá trị tính thuế của tài sản đó:
Vd: Doanh nghiệp cho thuê mặt bằng trong 2 năm. DN thu trước tiền cho thuê của 2 năm là 2.000 triệu đồng.
DN sẽ tính doanh thu kế toán ( giá trị ghi sổ) trong năm là 1000 triệu đồng. Trong khi đó cơ quan Thuế sẽ tính doanh thu chịu thuế là 2.000 triệu. => làm phát sinh một khoản chênh lệch là 1.000 triệu gọi là chênh lệch tạm thời được khấu trừ => Phát sinh tài sản TTNDNHL.

                 Doanh nghiệp                                              Cơ quan thuế
       DT Kế toán:                 1.000                -DT chịu thuế:              2.000
       CP kế toán                     500                -CP                                500
                                                                      -LN chịu thuế               1.500
      -Thuế TNDN HH:                 375                  -Thuế phải nộp:     375(1.500x 25%)
      -Tài sản TTNDN HL            (250). [ 1.000 x 25%.]
      - LN sau thuế:                     375

Vậy khi phát sinh một khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ do Giá trị ghi sổ của Doanh thu kế toán là 1.000tr nhỏ hơn giá trị tính thuế là 2.000 triệu thì sẽ làm phát sinh Tài sản TTNDN HL là 250 triệu.

          Giá trị ghi sổ của nợ phải trả lớn hơn cơ sở tính thuế của nó:
Vd: Trong năm DN có trích 1 khoản lương nghỉ phép cho công nhân, khoản trích này gọi là Chi phí phải trả với giá trị ghi sổ là 300 triệu.
Khi xác định chi phí hoạt động trong kỳ thì DN sẽ cộng (+) chi phí phải trả này vào trong chi phí hoạt động để xác định kết quả kinh doanh. Nhưng khi tính thuế, cơ quan thuế không cho khấu trừ cho mục đích tính thuế nếu như chưa thực chi => Làm phát sinh 1 khoản chênh lệch 300 triệu gọi là chênh lệch tạm thời được khấu trừ. => Phát sinh một khoản Tài sản TTNDN HL.


                 Doanh nghiệp                                      Cơ quan Thuế
-DT Kế toán:                      1.000              -DT chịu thuế:              1.000
-CP Kế toán ( CPPT 300)     700               -CP                                400
                                                              -LN chịu thuế:                 600.
-Thuế TNDN HH                  150               -Thuế phải nộp:            150( 600x25%)
-Tài sản TTNDN HL                           (75)  [ 300x25%]
- LN sau thuế:                                     225

Vậy khi phát sinh 1 khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ do giá trị ghi sổ của nợ phải trả  lớn hơn giá trị tính thuế là 300 thì sẽ làm phát sinh Tài sản TTNDN HL là 75.
Ngoài ra, chênh lệch tạm thời được khấu trừ còn phát sinh từ việc điều chỉnh giảm các khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu.
Vd: Trong năm 2008, DN bán hang nhưng chưa lập ra 1 khoản chi phí bảo hành sản phẩm. ( giả sử khoản chi phí cần phải lập này là 200). Lợi nhuận năm 2008 được xác định như sau:

                 Doanh nghiệp
-DT Kế toán:                    1.000
-CP kế toán:                       600 (Chưa có chi phí bảo hành sản phẩm).
-LN kế toán:                        400
-Thuế nộp:    100 (400x25%)
-EAT                                   300.
Sang năm 2009, DN phát hiện ra sai sót do chưa lập khoản chi phí bảo hành sản phẩm là 200. DN trích từ lợi nhuận sau thuế để lập khoản chi phí này. Điều này làm thay đổi vốn chủ sở hữu => Phát sinh 1 khoản chênh lệch tạm thời như sau:

                 Doanh nghiệp                                        Cơ quan Thuế.
-DT kế toán:                  1.000                       -DT chịu thuế:              1.000
-CP kế toán:                   800                       -CP                                600
                                                                  -LN chiu thuế:                 400.
-Thuế TNDN HH                100                      -Thuế phải nộp:               100.
-Tài sản TTNDN HL          (50) [200x25%]
-EAT                                   150.
Vậy khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ phát sinh do điều chỉnh vốn chủ sở hưu là lợi nhuận giữ lại sau thuế đã làm phát sinh Tài sản thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại là 50.